Đức Chúa Trời và bí ẩn lớn nhất của vũ trụ (dành cho người vô thần)

Tôi (tạm đóng vai một người vô thần) cho rằng có những lý do rất thuyết phục để tin rằng đằng sau vũ trụ tồn tại một nguyên lý nền tảng nào đó, một hữu thể hiện hữu tất yếu, một nguyên nhân đầu tiên.

Khi bàn về những lập luận mạnh nhất ủng hộ và phản đối sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, tôi cho rằng lập luận có sức nặng nhất nghiêng về phía khẳng định sự hiện hữu của Ngài là lập luận về nguyên nhân đầu tiên (First Cause).

Nhiều người đã quen thuộc với ý tưởng rằng vũ trụ cần phải có một nguyên nhân đầu tiên. Nhưng tôi nghĩ phần lớn mọi người đang hình dung lập luận này theo cách chưa thật chính xác. Có một dạng quan hệ nhân quả theo chiều ngang và một dạng quan hệ nhân quả theo thứ bậc. Điều đáng nói là nhiều người gần như không biết đến dạng thứ hai, trong khi đây mới là phiên bản đáng chú ý hơn của lập luận nhân quả.

Hãy hình dung một ly nước tôi cầm trên tay. Ta có thể hỏi: “Tại sao nước lại ở trong ly này?”

Thông thường, khi nghĩ về nguyên nhân, người ta nghĩ theo thời gian. Điều gì xảy ra trước dẫn đến điều xảy ra sau. Theo cách hiểu đó, ta sẽ trả lời rằng có người đã rót nước vào ly. Nếu tiếp tục hỏi vì sao họ rót nước vào ly, câu trả lời có thể là vì tôi yêu cầu họ. Rồi lại hỏi vì sao tôi yêu cầu như vậy, có thể là vì ly đang trống hoặc vì tôi khát nước. Cứ thế truy ngược mãi về quá khứ. Chuỗi giải thích ấy có thể kéo dài vô tận; miễn là mỗi mắt xích đều được giải thích bởi mắt xích đứng trước nó thì toàn bộ sự việc đều được giải thích bằng cách lần ngược theo thời gian.

Nhưng còn một cách khác để suy nghĩ về quan hệ nhân quả.

Ta cũng có thể hỏi: “Tại sao nước lại ở đây?” Câu trả lời là vì chiếc ly đang giữ nó lại. Nếu không có chiếc ly, nước sẽ chảy ra ngoài hoặc ít nhất sẽ không giữ được hình dạng và vị trí hiện tại của nó. Ngay cả trong môi trường không trọng lực, nước vẫn ở trong ly bởi vì chiếc ly đang nâng đỡ nó. Theo nghĩa đó, hình dạng và vị trí hiện tại của nước được gây ra bởi hình dạng và vị trí hiện tại của chiếc ly.

Vậy tại sao chiếc ly lại ở đó? Vì bàn tay tôi đang giữ nó. Tại sao bàn tay tôi lại ở đó? Vì nó được cánh tay nâng đỡ. Cánh tay được vai nâng đỡ. Vai được thân người nâng đỡ. Thân người được chiếc ghế nâng đỡ. Chiếc ghế được mặt đất nâng đỡ. Mặt đất được nền móng của tòa nhà nâng đỡ. Và chuỗi đó còn tiếp tục nữa.

Nếu tiếp tục truy xét, ta có thể nói đến lực hấp dẫn đang kéo tòa nhà xuống. Ta có thể nói đến những lực tự nhiên đang giữ Trái Đất gắn kết với nhau. Nhưng điểm quan trọng là toàn bộ quá trình này đang diễn ra ngay lúc này, trong cùng một thời điểm, theo một cấu trúc thứ bậc. Đây không phải là một chuỗi nguyên nhân kéo ngược về quá khứ. Nó vận hành theo chiều trên–dưới của một hệ thống phụ thuộc lẫn nhau.

Và có một lý do khiến loại quan hệ nhân quả này không thể kéo dài vô tận.

Trong mỗi tầng của chuỗi nhân quả ấy, tác nhân gây ra kết quả không thực sự sở hữu năng lực nhân quả của riêng mình. Nó chỉ có năng lực đó vì nhận được nó từ một điều gì đó nền tảng hơn.

Nói đơn giản hơn, chiếc ly đang giữ nước. Nhưng bản thân chiếc ly không thể tự mình làm điều đó. Nó chỉ giữ được nước vì đang được bàn tay tôi nâng đỡ. Nếu tôi bỏ tay ra, chiếc ly sẽ không còn khả năng giữ nước ở vị trí hiện tại nữa. Năng lực nhân quả của chiếc ly, năng lực khiến nước hiện diện đúng nơi nó đang hiện diện, thực chất được vay mượn từ bàn tay tôi.

Tương tự như vậy, nếu cánh tay tôi biến mất, bàn tay sẽ không còn khả năng giữ chiếc ly. Bàn tay không tự sở hữu năng lực ấy; nó vay mượn từ cánh tay. Cánh tay vay mượn từ vai. Vai vay mượn từ thân người.

Nếu loại bỏ bất kỳ mắt xích nào trong chuỗi này, mọi thứ nằm phía trên mắt xích đó sẽ ngay lập tức mất đi năng lực nhân quả của mình. Chúng sẽ không còn khả năng tiếp tục giữ nước ở đúng vị trí hiện tại nữa.

Năng lực nhân quả từ đâu mà có?

Điều đó có nghĩa là không có năng lực nhân quả thực sự nào trong toàn bộ chuỗi ấy, ngoại trừ điều đang nằm ở nền tảng và ban cho cả chuỗi khả năng tác động.

Hãy quay lại sự khác biệt giữa hai loại nhân quả.

Trong kiểu nhân quả theo chiều thời gian, hãy hình dung một hàng quân cờ domino đang ngã. Quân cờ thứ nhất bị đẩy ngã bởi quân đứng trước nó. Quân đứng trước đó lại bị đẩy bởi quân khác nữa. Cứ thế kéo dài ngược về vô tận.

Trong loại quan hệ nhân quả này, khi một quân domino làm ngã quân tiếp theo, rồi chuỗi tiếp tục lan truyền, ta có thể lấy quân domino đầu tiên ấy ra khỏi hệ thống và vứt đi mà không ảnh hưởng gì đến phần còn lại. Các quân domino phía sau vẫn tiếp tục ngã. Chuỗi nhân quả vẫn tiếp tục vận hành dù nguyên nhân ban đầu không còn tồn tại nữa.

Nói cách khác, trong loại nhân quả theo thời gian này, những nguyên nhân trước đó không cần tiếp tục hiện hữu để chuỗi nhân quả tiếp tục diễn ra.

Một ví dụ khác là mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái.

Ông tôi là nguyên nhân khiến cha tôi hiện hữu. Sau đó ông tôi qua đời. Dù vậy, cha tôi vẫn có khả năng sinh ra tôi. Ta có một chuỗi A gây ra B, rồi A biến mất, nhưng B vẫn giữ năng lực nhân quả riêng của mình để tạo ra C.

Nguyên nhân ban đầu không cần phải tiếp tục hiện diện.

Nhưng trong một chuỗi nhân quả có cấu trúc thứ bậc thì hoàn toàn khác.

Ở đây, khi nói đến cái “đầu tiên”, “sớm hơn” hay “nền tảng hơn”, ta không nói về thời gian mà nói về vị trí trong trật tự phụ thuộc của chuỗi.

Nếu ông tôi sinh ra cha tôi rồi qua đời, cha tôi vẫn còn khả năng sinh ra tôi. Nhưng nếu vai tôi là điều đang nâng đỡ cánh tay tôi, thì khi cái vai biến mất, cánh tay sẽ lập tức mất khả năng nâng đỡ bàn tay. Vai phải tiếp tục hiện diện và tiếp tục tác động lên cánh tay thì cánh tay mới có thể tác động lên bàn tay.

Toàn bộ quá trình đó diễn ra đồng thời trong cùng một khoảnh khắc.

Điều này dẫn đến một kết luận quan trọng: trong chuỗi ấy không có năng lực nhân quả nội tại.

Cha tôi có năng lực riêng để sinh ra tôi. Nhưng cánh tay tôi không có năng lực riêng để giữ bàn tay ở vị trí hiện tại. Nó chỉ vay mượn năng lực đó từ vai. Vai lại vay mượn từ thân người. Thân người vay mượn từ chiếc ghế.

Nếu không có chiếc ghế, toàn bộ chuỗi phía trên sẽ không còn khả năng hoạt động. Bàn tay tôi sẽ không thể ở đúng vị trí hiện tại. Nếu không có mặt sàn, chiếc ghế cũng không thể làm được gì.

Vì thế, chiếc ghế không tự sở hữu năng lực nhân quả nào cả. Trong chính khoảnh khắc này, nó chỉ có năng lực ấy vì đang nhận nó từ mặt đất bên dưới.

Giả sử sự vay mượn ấy kéo dài vô tận.

Vật này nhận năng lực từ vật kia. Vật kia lại nhận từ vật khác nữa. Chuỗi đó tiếp tục mãi mãi không có điểm dừng.

Khi đó sẽ không có năng lực nhân quả nào tồn tại cả.

Bởi mỗi mắt xích đều chỉ có năng lực nhờ vay mượn, nhưng không mắt xích nào thực sự sở hữu năng lực để cho vay. Mỗi thực thể đều nhận từ một thực thể khác vốn cũng không có năng lực nội tại. Nếu hỏi năng lực ấy đến từ đâu, câu trả lời luôn là từ một thứ khác cũng không có năng lực của riêng nó.

Chuỗi giải thích như vậy không thể kéo dài vô tận. Nếu kéo dài vô tận, thì trong khoảnh khắc hiện tại sẽ hoàn toàn không có năng lực nhân quả nào tồn tại để làm cho bất cứ điều gì xảy ra.

Đây là điểm khác biệt với chuỗi nhân quả theo thời gian.

Trong chuỗi domino, ta có thể hình dung quá khứ kéo dài vô tận mà không cần một nguyên nhân đầu tiên, bởi mỗi quân domino đều tự mình có khả năng làm ngã quân tiếp theo. Mỗi mắt xích đều sở hữu năng lực nhân quả riêng.

Nhưng trong chuỗi nhân quả theo thứ bậc đang diễn ra ngay lúc này thì không phải vậy.

Chiếc ly đang được giữ ở vị trí hiện tại bởi một chuỗi phụ thuộc đang hoạt động trong chính khoảnh khắc này. Và toàn bộ chuỗi ấy phải dựa trên một nguyên nhân nền tảng nào đó, một nguyên nhân đang ban sức sống và năng lực cho toàn bộ hệ thống. Nếu nguyên nhân đó không tồn tại, toàn bộ chuỗi sẽ sụp đổ.

Đó không phải là một nguyên nhân đã hành động từ hàng tỷ năm trước rồi để mặc mọi thứ tự vận hành.

Đó là một nguyên nhân đang duy trì sự hiện hữu của mọi sự ngay bây giờ.

Nó khiến mọi vật tồn tại và ở đúng trạng thái hiện tại của chúng. Tương tự như cách lực hấp dẫn giữ mọi vật trong căn phòng này ở đúng vị trí của chúng, nguyên nhân nền tảng ấy đang nâng đỡ toàn bộ hệ thống trong chính thời điểm hiện tại.

Nếu nguyên nhân đó đột ngột biến mất, toàn bộ cấu trúc sẽ tan rã ngay lập tức. Vì vậy, cần phải có một thực tại nền tảng đang hiện diện ngay lúc này, ở tận đáy của chuỗi nhân quả gồm mặt sàn nâng đỡ chiếc ghế, chiếc ghế nâng đỡ cơ thể, cơ thể nâng đỡ cánh tay, và cánh tay nâng đỡ chiếc ly nước.

Tại sao nguyên nhân đầu tiên phải là phi vật chất?

Nhưng đến đây, người ta có thể tiếp tục đặt câu hỏi: điều gì đang nâng đỡ chính lực hấp dẫn? Điều gì bảo đảm rằng ngày mai nó vẫn tiếp tục hoạt động? Và đó chính là điểm tranh luận lớn xoay quanh loại lập luận này.

Có rất nhiều thuật ngữ triết học phức tạp có thể được đưa vào đây: tính tất yếu và tính ngẫu nhiên, các chuỗi nhân quả tự thân hay ngẫu nhiên. Nhưng tạm gác những khái niệm đó sang một bên, hãy suy nghĩ theo cách đơn giản nhất.

Điều gì đang giữ chiếc micro vô hình phía trên đầu tôi ở đúng vị trí của nó?

Câu trả lời phụ thuộc vào mức độ giải thích mà ta đang tìm kiếm.

Một kỹ sư âm thanh có thể nói rằng giá đỡ micro đang giữ nó. Một nhà vật lý có thể nói rằng chính mặt sàn đang đẩy ngược lên giá đỡ. Nhưng một nhà triết học sẽ hỏi về điều nằm ở tận cùng nền tảng của chuỗi nhân quả ấy, điều đang ban cho toàn bộ hệ thống khả năng tác động.

Và đó chính là phiên bản mạnh nhất của lập luận về nguyên nhân đầu tiên: một lập luận không phụ thuộc vào thời gian và đòi hỏi nguyên nhân nền tảng ấy phải hiện hữu ngay trong hiện tại.

Tuy nhiên, bản thân lập luận này vẫn chưa đủ để chứng minh sự tồn tại của Đức Chúa Trời theo nghĩa đầy đủ.

Nó chỉ cho thấy rằng phải tồn tại một nguyên lý nền tảng nào đó đang duy trì vũ trụ. Còn bản chất của nguyên lý ấy là gì thì vẫn còn là chủ đề tranh luận.

Điều quan trọng là không tồn tại một lập luận duy nhất chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Thay vào đó là một tập hợp các lập luận hỗ trợ lẫn nhau. Mỗi lập luận làm sáng tỏ một khía cạnh khác nhau của điều mà người ta gọi là Đức Chúa Trời.

Loại lập luận nhân quả này xuất hiện trong tác phẩm Summa Theologica của Thomas Aquinas. Ông đưa ra năm con đường nổi tiếng nhằm chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, trong đó ba con đường đầu tiên đều là những dạng lập luận nhân quả.

Nhưng sau khi thiết lập được một nguyên nhân nền tảng, vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Cần phải tiếp tục chứng minh rằng thực thể ấy không phải vật chất. Cần phải giải thích thêm vì sao nó có thể được xem là tốt lành, yêu thương hay mang những thuộc tính khác thường được gán cho Đức Chúa Trời.

Một trong những lập luận nổi tiếng của Aquinas là lập luận từ sự thay đổi.

Trong ngôn ngữ triết học cổ, ông gọi đó là lập luận từ chuyển động. Nhưng ở đây “chuyển động” không chỉ có nghĩa là di chuyển trong không gian mà là mọi hình thức thay đổi.

Aquinas chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Aristotle, và cách ông lý giải có thể được tóm lược như sau.

Mỗi sự thay đổi đều là quá trình trong đó một khả thể trở thành hiện thực. Đó chính là bản chất của thay đổi.

Một tách cà phê nóng nguội dần theo thời gian. Khi còn nóng, nó có khả năng trở nên lạnh hơn. Sự thay đổi xảy ra khi khả năng ấy được hiện thực hóa.

Theo Aquinas, một khả thể chỉ có thể được hiện thực hóa bởi một thứ đã hiện thực sẵn.

Khả thể không thể tự hiện thực hóa bằng một khả thể khác.

Nếu tách cà phê nguội đi vì được đặt trong tủ lạnh, thì sự lạnh tiềm năng của tách cà phê không thể được tạo ra bởi sự lạnh tiềm năng của tủ lạnh. Tủ lạnh phải thực sự lạnh thì mới có thể làm cho sự lạnh tiềm năng của cà phê trở thành hiện thực.

Không thể có một chiếc tủ lạnh “có khả năng lạnh” và một tách cà phê “có khả năng lạnh”, rồi hai khả năng đó tự động tạo ra sự lạnh thực tế. Phải có một thực tại đang hiện hữu thực sự để hiện thực hóa khả năng đang tồn tại trong tách cà phê.

Từ đó, Aquinas phát triển thêm một dạng lập luận nhân quả khác.

Mỗi khi một khả thể trở thành hiện thực, phải có một thực tại nào đó hiện thực hóa nó. Nhưng thực tại đó cũng cần một điều khác hiện thực hóa. Và điều hiện thực hóa ấy lại cần một điều khác nữa.

Lần theo chuỗi này, Aquinas đi đến kết luận rằng ở điểm nền tảng phải tồn tại điều mà Aristotle gọi là “đấng hiện thực hóa không được hiện thực hóa”, một thực thể thuần hiện thực, hoàn toàn không mang tính khả thể.

Lập luận từ đây bắt đầu trở nên rất kỹ thuật.

Aquinas cố gắng chỉ ra rằng nếu một thực thể hoàn toàn không có bất kỳ khả thể nào trong nó, thì thực thể ấy không thể là vật chất.

Bất kỳ vật thể vật chất nào cũng đều có những khả năng chưa được hiện thực hóa. Nó có thể bị chia nhỏ. Nó có thể thay đổi vị trí. Nó có thể mang những trạng thái khác với trạng thái hiện tại. Nói cách khác, vật chất luôn chứa đựng những tiềm năng chưa được hiện thực hóa.

Nếu nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ phải là thuần hiện thực, không có bất kỳ tính khả thể nào, thì nguyên nhân ấy không thể là vật chất.

Đến đây, ta đã có một nguyên nhân đầu tiên phi vật chất.

Từ điểm đó, Aquinas tiếp tục sử dụng các lập luận khác để cho thấy thực thể này phải vượt ra ngoài thời gian, vượt ra ngoài không gian.

Kết quả cuối cùng là một nguyên nhân đầu tiên sáng tạo, phi không gian, phi thời gian, đủ quyền năng để đem vũ trụ vào hiện hữu. Nếu ai đó không muốn gọi thực thể ấy là “Đức Chúa Trời” thì điều đó cũng không thành vấn đề. Nhưng đối với phần lớn mọi người, mô tả đó đã rất gần với điều họ có ý khi nói đến Đức Chúa Trời.

Có một thực thể nào đó ngoài kia đang nâng đỡ muôn vật mọi phút giây

Tôi cho rằng có những lập luận rất mạnh để tin rằng đằng sau vũ trụ tồn tại một nguyên lý nền tảng nào đó, một hữu thể hiện hữu tất yếu, một nguyên nhân đầu tiên.

Nhưng nếu một người tự mình đi đến xác tín rằng có một nguyên nhân nền tảng nào đó của vũ trụ, rằng phải tồn tại một thực tại tối hậu đang nâng đỡ mọi sự, nhưng đồng thời cảm thấy mình không biết nhiều hơn thế và không muốn gắn mình với một truyền thống tôn giáo cụ thể nào, thì tôi hoàn toàn hiểu điều đó.

Thực ra, tôi nghĩ đó là một lập trường rất hợp lý.

Ngược lại, khi gặp những người theo chủ nghĩa vô thần kiểu cứng nhắc, đặc biệt theo khuynh hướng vô thần mới, tôi thường thích đưa ra các lập luận tôn giáo để thảo luận cùng họ. Không phải vì tôi nghĩ những lập luận ấy chứng minh được rằng họ sai, mà vì tôi cho rằng nhiều lập luận thần học có sức nặng hơn rất nhiều so với những gì người ta thường hình dung khi chỉ tiếp xúc với những lời phê phán phổ biến về tôn giáo.

Nhưng ngay cả điều đó cũng chưa đủ để kết luận rằng chủ nghĩa vô thần là sai.

Vì thế, tôi thường cảm thấy gần gũi hơn với những người nói rằng: “Tôi nghĩ có lẽ tồn tại một điều gì đó. Có thể là một vị thần, có thể không phải. Tôi chỉ không biết chính xác nó là gì.”

Tôi hiểu cảm giác đó. Tôi cũng không biết.

Tương tự như vậy, khi ai đó nói rằng vẫn còn rất nhiều bí ẩn trong vũ trụ, nhưng họ không thể tin rằng toàn bộ thế giới này được thiết kế một cách có chủ đích bởi một trí tuệ nào đó, tôi cũng hiểu lập trường ấy.

Đó là một phản ứng hoàn toàn dễ hiểu.

Trong những trường hợp như vậy, điều thú vị nhất không phải là tuyên bố ai đúng ai sai, mà là cùng nhau tiếp tục suy nghĩ và thảo luận về những câu hỏi đó.

Tôi luôn có thiện cảm với kiểu người sẵn sàng giữ thái độ cởi mở trước những bí ẩn của thực tại.

Có một lập trường khác thường được gọi là thuyết Thần giáo tự nhiên (Deism).

Theo cách hiểu phổ biến, người theo lập trường này tin rằng Đức Chúa Trời đã khởi động vũ trụ rồi rút lui khỏi nó. Ngài giống như một người lên dây cót chiếc đồng hồ rồi để nó tự vận hành.

Có thể hình dung rằng Ngài tạo ra thế giới rồi không còn can dự vào nó nữa. Có thể Ngài ngủ quên. Có thể Ngài biến mất. Có thể Ngài thậm chí không còn tồn tại nữa. Điều quan trọng là thế giới vẫn tiếp tục vận hành sau khi được khởi động.

Nhưng tôi không thấy cách nhìn đó thực sự thuyết phục.

Theo tôi, đây là sản phẩm của một lối tư duy cơ giới xuất hiện mạnh mẽ sau cuộc cách mạng khoa học, khi con người bắt đầu hình dung vũ trụ như một cỗ máy.

Trong cách nhìn đó, chỉ cần khởi động hệ thống một lần là đủ. Sau đó nó sẽ tự vận hành.

Nhưng chính vì lý do đó mà tôi đặc biệt đánh giá cao lập luận về nguyên nhân nền tảng theo cấu trúc thứ bậc.

Lập luận ấy loại bỏ hoàn toàn hình ảnh một vị thần chỉ xuất hiện lúc khởi đầu rồi biến mất.

Nếu nguyên nhân nền tảng thật sự là điều đang ban năng lực nhân quả cho toàn bộ hệ thống, thì nó không thể đơn giản đẩy ngã quân domino đầu tiên rồi rời đi.

Nó phải đang hiện diện ngay bây giờ.

Nguyên nhân đó không giống người đẩy quân domino đầu tiên rồi để chuỗi domino tiếp tục tự vận hành.

Nó giống như điều đang giữ chiếc micro lơ lửng phía trên đầu tôi trong chính khoảnh khắc hiện tại.

Nếu điều đó biến mất, toàn bộ hệ thống sẽ sụp đổ ngay lập tức.

Vì vậy, nếu có một nguyên nhân nền tảng của vũ trụ, tôi nghĩ lập luận mạnh nhất cho thấy rằng nguyên nhân ấy không chỉ từng tồn tại trong quá khứ mà còn đang hiện hữu ngay lúc này, duy trì mọi sự trong hiện hữu.

Điều đó không có nghĩa nguyên nhân ấy nhất thiết phải là một Đức Chúa Trời mang tính cá vị. Nó không tự động chứng minh rằng Ngài yêu thương con người, quan tâm đến đời sống con người hay can dự vào lịch sử nhân loại.

Đó là những câu hỏi riêng biệt.

Một người hoàn toàn có thể tin rằng tồn tại một nguyên nhân nền tảng của vũ trụ nhưng nguyên nhân ấy không hề quan tâm đến con người.

Đó là một lập trường có thể hiểu được.

Nhưng điều tôi thấy khó chấp nhận hơn là ý tưởng về một vị thần đã từng tồn tại, đã từng tạo ra mọi thứ, rồi hoàn toàn biến mất khỏi thực tại.

Nếu đã có những lý do chính đáng để tin vào sự tồn tại của một nguyên nhân nền tảng, thì những lý do đó dường như cũng đòi hỏi nguyên nhân ấy phải tiếp tục hiện hữu và tiếp tục nâng đỡ thế giới trong từng khoảnh khắc.

Vì thế, cuối cùng tôi thấy mình đứng trước hai khả năng rõ ràng hơn.

Hoặc không có Đức Chúa Trời nào cả.

Hoặc có một nguyên nhân nền tảng vẫn đang hiện diện ngay lúc này, đang nâng đỡ mọi sự trong hiện hữu, đang giữ cho toàn bộ cấu trúc của thực tại tiếp tục tồn tại.

Còn ý tưởng về một vị thần từng có mặt ở buổi đầu của vũ trụ nhưng giờ đây hoàn toàn vắng bóng thì đối với tôi không thật sự có nhiều sức thuyết phục.

Phụ lục: Vì sao nhiều triết gia cho rằng thời gian không thể kéo dài vô tận về quá khứ?

Nếu nguyên nhân đầu tiên là điều cần thiết để giải thích vì sao có Đức Chúa Trời, thì phản đối mạnh nhất thường xuất hiện ngay lập tức: tại sao phải có nguyên nhân đầu tiên? Tại sao không thể có một chuỗi nguyên nhân kéo dài vô tận về quá khứ?

Ý tưởng này thoạt nhìn có vẻ hoàn toàn hợp lý. Mỗi sự kiện được giải thích bởi một sự kiện đứng trước nó. Mỗi nguyên nhân được giải thích bởi một nguyên nhân khác. Không có điểm bắt đầu, nhưng cũng không có mắt xích nào bị bỏ ngỏ. Toàn bộ lịch sử của vũ trụ đơn giản là một chuỗi vô hạn những sự kiện nối tiếp nhau.

Vấn đề là ở chỗ một quá khứ vô hạn không chỉ khẳng định rằng thời gian rất dài. Nó khẳng định rằng trước thời điểm hiện tại đã tồn tại một số lượng vô hạn các sự kiện thực sự xảy ra. Toàn bộ chuỗi vô hạn đó đã được hoàn tất.

Đây là điểm mà nhiều triết gia cho rằng giả thuyết về quá khứ vô hạn bắt đầu gặp khó khăn.

Trong toán học, vô hạn không tạo ra vấn đề. Tập hợp các số nguyên kéo dài vô tận theo cả hai hướng. Không tồn tại số nguyên đầu tiên. Không tồn tại số nguyên cuối cùng. Nhưng tập hợp số nguyên không được tạo thành bằng cách lần lượt đi qua từng số. Nó tồn tại như một cấu trúc toán học hoàn chỉnh. Khi chuyển từ toán học sang lịch sử của thế giới, bản chất của vấn đề thay đổi hoàn toàn. Lịch sử không tồn tại đồng thời như một tập hợp. Nó được hình thành bằng những sự kiện kế tiếp nhau. Hôm nay chỉ xuất hiện sau khi hôm qua kết thúc. Một năm chỉ xuất hiện sau khi năm trước đó trôi qua.

Nếu trước hiện tại thực sự tồn tại vô số năm, vô số thế kỷ và vô số biến cố, thì toàn bộ vô hạn ấy phải được hoàn tất trước khi hiện tại có thể xuất hiện.

Đó là lý do Al-Ghazali từ thế kỷ XI đã lập luận rằng một vô hạn thực sự được hoàn tất là điều không thể xảy ra trong thực tại. William Lane Craig sau này phát triển lại cùng lập luận dưới hình thức hiện đại hơn. Điểm cốt lõi không nằm ở việc vô hạn quá lớn. Một triệu năm vẫn hữu hạn. Một nghìn tỷ năm vẫn hữu hạn. Vấn đề nằm ở chỗ vô hạn không có điểm khởi đầu. Một chuỗi không có điểm khởi đầu dường như không thể được hoàn tất bằng cách cộng dồn từng bước liên tiếp.

Lý thuyết tập hợp hiện đại càng khiến câu hỏi này trở nên đáng chú ý hơn. Nghịch lý khách sạn Hilbert cho thấy một tập hợp vô hạn hành xử theo những cách hoàn toàn xa lạ với thế giới vật lý. Một khách sạn có vô hạn phòng có thể đầy và vẫn còn chỗ. Nó có thể mất đi vô hạn khách mà vẫn giữ nguyên số lượng khách. Nó có thể tiếp nhận vô hạn khách mới mà không cần mở thêm bất kỳ phòng nào. Những kết quả này không phải lỗi trong toán học. Chúng là hệ quả hoàn toàn chính xác của số học vô hạn.

Tuy nhiên, chính vì những hệ quả đó mà nhiều triết gia cho rằng vô hạn hiện thực có thể tồn tại trong toán học nhưng không thể được hiện thực hóa trong thế giới vật lý. Một quá khứ vô hạn không phải là một công thức trên giấy. Nó là một khẳng định về thế giới thực. Nó nói rằng đã tồn tại vô số sự kiện vật lý thực sự diễn ra trước thời điểm hiện tại. Nếu vô hạn hiện thực dẫn đến những hệ quả kỳ lạ đến mức khó có thể hình dung trong thế giới vật lý, thì việc cho rằng lịch sử của toàn bộ vũ trụ là một vô hạn hiện thực đã được hoàn tất trở thành một giả thuyết cần được chứng minh thay vì một giả định hiển nhiên.

Những cân nhắc triết học này nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ vật lý hiện đại. Định luật thứ hai của nhiệt động lực học phát biểu rằng entropy của một hệ kín có xu hướng gia tăng theo thời gian. Nói đơn giản hơn, năng lượng khả dụng dần bị phân tán và các hệ vật lý có xu hướng tiến về trạng thái cân bằng. Một ngôi sao không thể cháy mãi mãi. Một nguồn nhiên liệu không thể bị khai thác vô tận. Một quá trình vật lý không thể tiếp tục vô hạn mà không làm thay đổi trạng thái của hệ thống.

Khi nguyên lý này được áp dụng cho toàn bộ vũ trụ, một câu hỏi xuất hiện. Nếu vũ trụ đã tồn tại từ vô hạn quá khứ, tại sao nó vẫn chưa đạt tới trạng thái cân bằng nhiệt? Tại sao các ngôi sao vẫn đang cháy? Tại sao vẫn còn những chênh lệch nhiệt độ khổng lồ giữa các vùng không gian? Tại sao vẫn còn những quá trình vật lý tạo ra cấu trúc, trật tự và năng lượng tự do?

Một vũ trụ đã trải qua vô hạn thời gian dường như phải có đủ thời gian để tiến tới trạng thái entropy cực đại. Thế nhưng những gì quan sát được lại cho thấy vũ trụ vẫn đang trong quá trình tiến hóa. Đây không phải là chứng minh tuyệt đối rằng thời gian có khởi đầu, nhưng nó tạo ra một áp lực đáng kể đối với các mô hình quá khứ vô hạn.

Sự phát triển của vũ trụ học thế kỷ XX tiếp tục đẩy cuộc tranh luận theo cùng một hướng. Các quan sát của Edwin Hubble cho thấy vũ trụ đang giãn nở. Khi quá trình giãn nở được tua ngược về quá khứ, mật độ vật chất và năng lượng tăng lên. Đây là nền tảng của mô hình Big Bang hiện đại. Trong nhiều thập kỷ, các nhà vật lý đã cố gắng xây dựng những mô hình có thể tránh được một điểm khởi đầu tuyệt đối bằng cách kéo dài lịch sử vũ trụ vô hạn về phía sau. Một số mô hình dao động, một số mô hình tuần hoàn và một số mô hình dựa trên lạm phát vĩnh cửu đã được đề xuất.

Tuy nhiên, năm 2003, Arvind Borde, Alan Guth và Alexander Vilenkin công bố một kết quả được xem là một trong những định lý quan trọng nhất liên quan đến nguồn gốc vũ trụ. Định lý Borde–Guth–Vilenkin cho thấy bất kỳ vũ trụ nào có tốc độ giãn nở dương trung bình trong lịch sử của nó đều không thể kéo dài vô hạn về quá khứ. Nói cách khác, ngay cả khi một mô hình có thể tránh được điểm kỳ dị Big Bang truyền thống, lịch sử vật lý của nó vẫn không thể được mở rộng vô hạn về phía sau. Một biên giới nào đó phải xuất hiện.

Alexander Vilenkin sau này tóm tắt ý nghĩa của kết quả đó bằng một câu nổi tiếng: mọi bằng chứng hiện có đều chỉ về kết luận rằng vũ trụ đã có một khởi đầu.

Điều quan trọng là định lý này không chứng minh sự tồn tại của Đức Chúa Trời. Nó cũng không mô tả điều gì tồn tại trước biên giới đó. Nhưng nó loại bỏ một trong những lối thoát phổ biến nhất được sử dụng để tránh ý tưởng về một khởi đầu của thời gian.

Khi những dòng lập luận này được đặt cạnh nhau, một mô hình nhất quán bắt đầu xuất hiện. Triết học đặt câu hỏi về khả năng hoàn tất một chuỗi vô hạn các sự kiện. Lý thuyết tập hợp cho thấy vô hạn hiện thực mang những đặc tính rất khó áp dụng vào thế giới vật lý. Nhiệt động lực học đặt áp lực lên ý tưởng về một vũ trụ đã tồn tại từ vô hạn quá khứ. Vũ trụ học hiện đại liên tục chỉ về một lịch sử hữu hạn thay vì vô hạn.

Không có một lập luận đơn lẻ nào đủ để kết thúc cuộc tranh luận. Nhưng khi tất cả cùng hội tụ về một hướng, giả thuyết rằng thời gian có một điểm khởi đầu trở nên mạnh hơn đáng kể so với trực giác ban đầu cho rằng quá khứ có thể kéo dài vô tận.

Và nếu thời gian thực sự có một điểm khởi đầu, câu hỏi về nguyên nhân đầu tiên không còn có thể bị gạt bỏ bằng cách đơn giản kéo dài chuỗi nguyên nhân mãi về quá khứ. Bởi khi thời gian bắt đầu tồn tại, nguyên nhân của vũ trụ không thể là một sự kiện nằm bên trong thời gian. Nó phải thuộc về một tầng thực tại sâu hơn chính cấu trúc không-thời gian của vũ trụ. Đó chính là lý do vì sao trong truyền thống triết học hữu thần, cuộc tranh luận về vô hạn không bao giờ chỉ là một cuộc tranh luận về toán học. Nó là cuộc tranh luận về việc liệu thực tại có cần một nền tảng tối hậu hay không, và liệu nền tảng đó có phải là điều mà người ta gọi là Đức Chúa Trời.

Scroll to Top