Vì sao Ma-thi-ơ kể cuộc đời Chúa Jêsus giống lịch sử Y-sơ-ra-ên?
Trong những chương đầu của Ma-thi-ơ, đối tượng trực tiếp của câu chuyện là Đức Chúa Jêsus, Giô-sép, Ma-ri, vua Hê-rốt và dân chúng tại Giu-đê, nhưng Ma-thi-ơ liên tục đặt những sự kiện xảy ra với Đức Chúa Jêsus bên cạnh lịch sử trước đó của Y-sơ-ra-ên.
Ma-thi-ơ bắt đầu bằng gia phả gọi Ngài là “con cháu Đa-vít, con cháu Áp-ra-ham” (Ma-thi-ơ 1:1), nghĩa là ngay từ đầu, câu chuyện của Đức Chúa Jêsus được đặt bên trong lịch sử giao ước bắt đầu với Áp-ra-ham và vương quyền Đa-vít. Sau đó Ma-thi-ơ 2–4 kể một chuỗi sự kiện rất đặc biệt: Đức Chúa Jêsus xuống Ai Cập, được gọi ra khỏi Ai Cập, đi qua nước trong phép báp-têm, được gọi là Con Đức Chúa Trời, rồi vào hoang mạc chịu thử thách bốn mươi ngày. Chính chuỗi này tạo ra sự tương ứng rõ ràng với câu chuyện Y-sơ-ra-ên trong Xuất Ê-díp-tô Ký và Phục Truyền Luật Lệ Ký.
Điểm mạnh nhất nằm ở Ma-thi-ơ 2:15: “Ta đã gọi Con Ta ra khỏi Ai Cập.” Ma-thi-ơ nói sự kiện Đức Chúa Jêsus từ Ai Cập trở về xảy ra “để ứng nghiệm lời Chúa đã phán bởi nhà tiên tri”. Câu mà Ma-thi-ơ trích đến từ Ô-sê 11:1: “Khi Y-sơ-ra-ên còn thơ ấu, Ta yêu thương nó, và gọi con Ta ra khỏi Ai Cập.” Trong bối cảnh nguyên thủy của Ô-sê, “con Ta” rõ ràng là dân Y-sơ-ra-ên, không phải một lời tiên đoán trực tiếp rằng một đứa trẻ tương lai sẽ sống ở Ai Cập. Ô-sê đang nhìn lại cuộc Xuất Hành đã xảy ra trong quá khứ.
Chính vì vậy, cách Ma-thi-ơ sử dụng câu này cho thấy ông đang làm điều phức tạp hơn việc tìm một lời tiên đoán rồi chỉ ra rằng nó đã xảy ra. Ma-thi-ơ đặt Đức Chúa Jêsus vào trong câu chuyện của chính Y-sơ-ra-ên.
Điều này càng rõ khi xem toàn bộ chuỗi Ma-thi-ơ 2–4 thay vì chỉ Ma-thi-ơ 2:15. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký, Pha-ra-ôn là một vua quyền lực sợ dân Y-sơ-ra-ên và ra lệnh giết các con trai Hê-bơ-rơ: “Hễ con trai sinh ra thì hãy ném xuống sông” (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:22). Môi-se thoát khỏi cuộc tàn sát đó và sau này trở thành người được Đức Chúa Trời dùng giải cứu dân Ngài. Trong Ma-thi-ơ 2, Hê-rốt cũng là một vua sợ mất quyền lực. Sau khi biết về “vua dân Do Thái mới sinh”, ông tìm cách giết Ngài, rồi ra lệnh giết những bé trai tại Bết-lê-hem từ hai tuổi trở xuống (Ma-thi-ơ 2:16). Ma-thi-ơ không nói Hê-rốt “là Pha-ra-ôn”, nhưng cấu trúc của hai câu chuyện tương tự đến mức khó xem đó là tình cờ.
Sau đó gia đình Đức Chúa Jêsus xuống Ai Cập và rồi Đức Chúa Trời gọi Ngài ra khỏi Ai Cập. Đây chính là nơi Ma-thi-ơ trích Ô-sê 11:1. Trong Ô-sê, Y-sơ-ra-ên là “con” được gọi ra khỏi Ai Cập. Tương tự, trong Ma-thi-ơ, Đức Chúa Jêsus là Con được gọi ra khỏi Ai Cập.
Sự tương ứng tiếp tục trong Ma-thi-ơ 3. Khi Đức Chúa Jêsus chịu báp-têm, Ngài đi qua nước, rồi tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta” (Ma-thi-ơ 3:17). Ngay sau đó Ma-thi-ơ 4:1 nói Thánh Linh dẫn Ngài “vào hoang mạc để chịu ma quỷ cám dỗ”. Điều đáng chú ý là Y-sơ-ra-ên cũng được gọi là con của Đức Chúa Trời trước cuộc Xuất Hành. Đức Chúa Trời bảo Môi-se nói với Pha-ra-ôn: “Y-sơ-ra-ên là con Ta, con trưởng nam Ta” (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:22). Sau đó Y-sơ-ra-ên đi qua nước Biển Đỏ trong Xuất Ê-díp-tô Ký 14 rồi vào hoang mạc để chịu thử thách.
Ma-thi-ơ tiếp tục làm cho mối liên hệ này rõ hơn nữa bằng những câu Đức Chúa Jêsus dùng khi bị cám dỗ. Cả ba lần Ngài trả lời ma quỷ trong Ma-thi-ơ 4 đều lấy từ Phục Truyền Luật Lệ Ký, tức những lời Môi-se nói với Y-sơ-ra-ên khi nhìn lại thời gian họ ở hoang mạc. Khi Đức Chúa Jêsus nói: “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi” (Ma-thi-ơ 4:4), Ngài trích Phục Truyền 8:3, nơi Môi-se giải thích việc Đức Chúa Trời cho Y-sơ-ra-ên ăn ma-na trong hoang mạc. Khi Ngài nói: “Ngươi chớ thử Chúa là Đức Chúa Trời ngươi” (Ma-thi-ơ 4:7), Ngài trích Phục Truyền 6:16, liên quan đến việc Y-sơ-ra-ên thử Đức Chúa Trời tại Ma-sa. Khi Ngài nói: “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và chỉ phụng sự một mình Ngài” (Ma-thi-ơ 4:10), Ngài trích Phục Truyền 6:13, trong phần cảnh báo Y-sơ-ra-ên không được chạy theo các thần khác.
Có thêm một chi tiết rất đáng chú ý. Phục Truyền 8:2 nói Đức Chúa Trời dẫn Y-sơ-ra-ên “suốt bốn mươi năm trong hoang mạc” để thử họ và biết điều gì trong lòng họ. Ma-thi-ơ 4:2 nói Đức Chúa Jêsus kiêng ăn “bốn mươi ngày và bốn mươi đêm” trước khi bị cám dỗ. Ma-thi-ơ không trực tiếp nói “bốn mươi ngày của Đức Chúa Jêsus tương ứng với bốn mươi năm của Y-sơ-ra-ên”, nhưng việc Ngài ở hoang mạc bốn mươi ngày rồi dùng chính các đoạn Phục Truyền nói về bốn mươi năm của Y-sơ-ra-ên khiến mối liên hệ đó rất mạnh.
Cũng cần nhấn mạnh rằng: Ma-thi-ơ không chỉ đơn thuần cho thấy Đức Chúa Jêsus “lặp lại” lịch sử Y-sơ-ra-ên. Ông cũng tạo ra một sự tương phản. Y-sơ-ra-ên được gọi là con Đức Chúa Trời, được đưa ra khỏi Ai Cập và vào hoang mạc, nhưng tại đó dân liên tục thất bại. Họ than phiền về thức ăn trong Xuất Ê-díp-tô Ký 16; họ thử Đức Chúa Trời tại Ma-sa trong Xuất Ê-díp-tô Ký 17; họ thờ bò con trong Xuất Ê-díp-tô Ký 32. Đức Chúa Jêsus đi qua một chuỗi tương tự, nhưng trong Ma-thi-ơ 4, Ngài từ chối cả ba cám dỗ. Vì vậy Ma-thi-ơ không chỉ tạo ra sự tương đồng Israel–Jesus mà còn tạo ra tương phản giữa sự bất trung của Y-sơ-ra-ên và sự vâng phục của Đức Chúa Jêsus.
Điều này cũng giúp hiểu cách Ma-thi-ơ dùng từ “ứng nghiệm”. Nếu “ứng nghiệm” luôn có nghĩa duy nhất là “một nhà tiên tri đã tiên đoán chính xác một sự kiện tương lai và bây giờ sự kiện đó xảy ra”, Ô-sê 11:1 trở nên rất khó hiểu, vì Ô-sê đang nói về quá khứ: “Khi Y-sơ-ra-ên còn thơ ấu… Ta gọi con Ta ra khỏi Ai Cập.” Nhưng Ma-thi-ơ vẫn nói rằng việc Đức Chúa Jêsus ra khỏi Ai Cập “ứng nghiệm” lời đó. Dữ liệu trong chính Kinh Thánh vì thế cho thấy ít nhất trong trường hợp này, “ứng nghiệm” bao gồm việc một khuôn mẫu trong lịch sử Y-sơ-ra-ên đạt đến một biểu hiện mới nơi Đức Chúa Jêsus.
Nếu đặt toàn bộ phần này trong mạch Ma-thi-ơ, mô hình còn kéo dài xa hơn Ma-thi-ơ 2. Đức Chúa Jêsus ra khỏi Ai Cập, đi qua nước, ở trong hoang mạc, rồi lên núi và bắt đầu giảng dạy trong Ma-thi-ơ 5:1. Môi-se cũng ra khỏi Ai Cập cùng dân Y-sơ-ra-ên, đi qua biển, qua hoang mạc rồi lên núi để nhận và truyền luật pháp trong Xuất Ê-díp-tô Ký 19–20. Ma-thi-ơ không nói trực tiếp “Đức Chúa Jêsus là Môi-se mới” trong câu này, nên không nên biến sự tương ứng thành một tuyên bố mà văn bản không nói. Nhưng chuỗi Ai Cập → nước → hoang mạc → núi xuất hiện trong cả hai câu chuyện và vì vậy là một quan sát văn bản hợp lý.
Do đó, nếu chỉ xét dữ liệu Kinh Thánh, Ma-thi-ơ cố ý kể những năm đầu của Đức Chúa Jêsus theo những hình thức gợi lại câu chuyện Xuất Hành và lịch sử Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Jêsus được trình bày như “Con” đi qua con đường mà “con” Y-sơ-ra-ên đã đi: Ai Cập, ra khỏi Ai Cập, qua nước, hoang mạc, thử thách. Nhưng trong khi Y-sơ-ra-ên thất bại trong hoang mạc, Đức Chúa Jêsus vẫn vâng phục. Chính điều này giải thích rất tự nhiên tại sao Ma-thi-ơ có thể lấy Ô-sê 11:1, vốn nguyên thủy nói về Y-sơ-ra-ên trong quá khứ, rồi nói rằng nó được “ứng nghiệm” nơi Đức Chúa Jêsus.
Đây không phải chỉ là mô hình “nhà tiên tri dự đoán X rồi X xảy ra”, mà là một lịch sử trước đó được Ma-thi-ơ cho thấy đạt đến một sự hoàn tất mới nơi Đức Chúa Jêsus.
Tại sao xuất hiện hình ảnh Ra-chên khóc các con mình?
Trở lại phân tích sâu đoạn Ma-thi-ơ 2:16–18, đối tượng trực tiếp trong câu chuyện là Hê-rốt, những gia đình tại Bết-lê-hem, Giô-sép, Ma-ri và Đức Chúa Jêsus. Nhưng khi Ma-thi-ơ trích Giê-rê-mi 31:15, ông đặt biến cố này vào một câu chuyện lịch sử rộng hơn của Y-sơ-ra-ên: sự áp bức, cái chết, lưu đày và cuối cùng là hy vọng phục hồi. Đây chính là bước thứ hai của khuôn mẫu mà Ma-thi-ơ đang xây dựng trong chương 2. Hê-rốt nhận ra mình đã bị các nhà thông thái qua mặt, nổi giận và ra lệnh giết “tất cả con trai từ hai tuổi trở xuống tại Bết-lê-hem và các vùng phụ cận” (Ma-thi-ơ 2:16).
Hành động của Hê-rốt rõ ràng gợi lại Pha-ra-ôn trong Xuất Ê-díp-tô Ký. Pha-ra-ôn sợ dân Y-sơ-ra-ên ngày càng đông nên tìm cách kiểm soát họ, cuối cùng ra lệnh: “Hễ con trai sinh ra thì hãy ném xuống sông” (Xuất Ê-díp-tô Ký 1:22). Hê-rốt cũng hành động vì sợ mất quyền lực. Khi nghe các nhà thông thái hỏi về “Vua dân Do Thái mới sinh” (Ma-thi-ơ 2:2), ông “bối rối” (2:3), rồi âm thầm tìm cách xác định nơi đứa trẻ ở (2:7–8), và khi kế hoạch thất bại, ông dùng bạo lực để loại bỏ mối đe dọa. Vì vậy, gọi Hê-rốt là một hình ảnh “Pha-ra-ôn mới” phù hợp với khuôn mẫu Ma-thi-ơ đang xây dựng: một vị vua cố bảo vệ quyền lực của mình bằng cách giết con trai của dân Y-sơ-ra-ên, trong khi đứa trẻ trung tâm (Jêsus) trong chương trình của Đức Chúa Trời được bảo tồn.
Ngay sau cuộc tàn sát, Ma-thi-ơ nói:
Vậy là ứng nghiệm lời đấng tiên tri Giê-rê-mi đã nói rằng:
Người ta có nghe tiếng kêu la,
Phàn nàn, than khóc trong thành Ra-ma:
Ấy là Ra-chên khóc các con mình,
Mà không chịu yên ủi, vì chúng nó không còn nữa. (Ma-thi-ơ 2:17–18; Giê-rê-mi 31:15)
Điều quan trọng là Giê-rê-mi 31:15 nguyên thủy không nói trước về những trẻ em bị Hê-rốt giết tại Bết-lê-hem. Nó nói trong bối cảnh một thảm họa trước đó của Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, giống như trường hợp Ô-sê 11:1, nếu chỉ hiểu “ứng nghiệm” theo nghĩa Giê-rê-mi đã nhìn thấy trước chính xác cuộc tàn sát tại Bết-lê-hem, chúng ta sẽ bỏ mất phần lớn ý nghĩa của cách Ma-thi-ơ sử dụng đoạn này.
Bối cảnh của Giê-rê-mi là sự sụp đổ của Giu-đa trước Ba-by-lôn. II Các Vua 25 và Giê-rê-mi 39, 52 kể rằng quân Ba-by-lôn bao vây Giê-ru-sa-lem, phá thành, đốt đền thờ, giết nhiều người và bắt những người còn sống đi lưu đày. Giê-rê-mi 40:1 đặc biệt liên hệ Ra-ma với biến cố này: Giê-rê-mi được tìm thấy “bị xiềng giữa tất cả những người bị lưu đày từ Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, là những người bị dẫn sang Ba-by-lôn”. Vì vậy “tiếng kêu tại Ra-ma” trong Giê-rê-mi 31 đặt chúng ta vào bối cảnh dân Y-sơ-ra-ên mất con cái, mất quê hương và bị đem sang đất kẻ thù.
Giê-rê-mi diễn tả thảm họa ấy bằng hình ảnh Ra-chên khóc các con mình. Ra-chên là vợ của Gia-cốp, người sau này được gọi là Y-sơ-ra-ên (Sáng Thế Ký 29–35). Bà sinh Giô-sép và Bên-gia-min, vì vậy bà là một trong những tổ mẫu của các chi phái Y-sơ-ra-ên. Sáng Thế Ký 35:16–20 kể rằng Ra-chên chết khi sinh Bên-gia-min trên đường đến Ép-ra-ta, tức Bết-lê-hem. Khi hấp hối, bà gọi con mình là Bên-ô-ni, “con trai của nỗi đau tôi”, nhưng Gia-cốp đổi tên con thành Bên-gia-min. Bà được chôn trên đường đến Ép-ra-ta, là Bết-lê-hem. Vì vậy hình ảnh Ra-chên trong Giê-rê-mi là hình ảnh một người tổ mẫu của Y-sơ-ra-ên khóc cho hậu duệ mình khi họ bị giết hoặc bị đem khỏi đất.
Giê-rê-mi 31:15 vì thế không đơn thuần mô tả một người phụ nữ lịch sử đang sống vào thời Giê-rê-mi. Ra-chên đã chết từ nhiều thế kỷ trước. Nhà tiên tri nhân cách hóa bà như người mẹ của Y-sơ-ra-ên đang khóc cho “các con mình”. Những người bị Ba-by-lôn giết hoặc đem đi lưu đày chính là hậu duệ của dân mà bà thuộc về. Vì vậy tiếng khóc của Ra-chên trở thành hình ảnh cho nỗi đau của Y-sơ-ra-ên trước việc con cái của dân tộc bị mất.
Ma-thi-ơ lấy chính hình ảnh đó và đặt nó vào cuộc tàn sát ở Bết-lê-hem. Một lần nữa, con cái Y-sơ-ra-ên đang bị một vua bạo lực giết. Vì thế tiếng khóc của Ra-chên trong Giê-rê-mi có thể được nghe lại trong câu chuyện của Ma-thi-ơ. Ra-chên từng được mô tả như khóc cho con cái Y-sơ-ra-ên trong thảm họa Ba-by-lôn; giờ đây tại chính khu vực gắn với cái chết và phần mộ của bà trong Sáng Thế Ký 35, lại có những bà mẹ Y-sơ-ra-ên mất con. Ma-thi-ơ dùng lời của Giê-rê-mi để nói rằng đây là cùng một loại bi kịch trong câu chuyện Y-sơ-ra-ên đang xảy ra một lần nữa.
Đây cũng nối trực tiếp với khuôn mẫu đã xuất hiện trước đó trong Ma-thi-ơ 2:
- Trong Xuất Ê-díp-tô Ký, Pha-ra-ôn dùng quyền lực để giết con trai Y-sơ-ra-ên.
- Trong thời Giê-rê-mi, Ba-by-lôn phá hủy Giê-ru-sa-lem, giết dân và đem phần còn lại đi lưu đày.
- Trong Ma-thi-ơ, Hê-rốt lại dùng quyền lực để giết con trẻ nhằm bảo vệ ngai mình.
Ba sự kiện không phải cùng một biến cố, nhưng chúng tạo thành một khuôn mẫu giống nhau: những người cai trị đầy quyền lực sử dụng bạo lực đối với dân Đức Chúa Trời và dường như đe dọa chương trình của Ngài.
Nhưng có một phần rất quan trọng của Giê-rê-mi 31 mà Ma-thi-ơ không trích ra trực tiếp. Ngay sau câu “Ra-chên khóc các con mình”, Đức Giê-hô-va phán: “Hãy ngăn tiếng ngươi khỏi khóc, mắt ngươi khỏi tuôn lệ… chúng sẽ trở về từ đất kẻ thù. Có hy vọng cho tương lai ngươi… các con ngươi sẽ trở về lãnh thổ mình” (Giê-rê-mi 31:16–17). Vì vậy trong bối cảnh nguyên thủy, tiếng khóc của Ra-chên không phải là kết thúc của đoạn văn. Giê-rê-mi bắt đầu bằng cái chết và lưu đày nhưng tiếp tục bằng lời hứa trở về và phục hồi. Chính chương 31 sau đó còn tiến đến lời hứa về “giao ước mới” với nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa (Giê-rê-mi 31:31–34).
Điều đó làm cho việc Ma-thi-ơ chọn Giê-rê-mi 31:15 đặc biệt có ý nghĩa. Câu ông trích nói về nỗi đau của Y-sơ-ra-ên, nhưng đoạn văn mà câu đó thuộc về lại là một đoạn nói về nỗi đau dẫn đến sự phục hồi. Trong Giê-rê-mi, con cái bị mất khỏi đất nhưng Đức Chúa Trời hứa chúng sẽ trở về.
Trong Ma-thi-ơ 2, ngay giữa một cuộc tàn sát khác của con cái Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Jêsus đã được đưa khỏi tầm tay Hê-rốt và sau khi Hê-rốt chết, Ngài cũng sẽ được gọi trở về (Ma-thi-ơ 2:19–21). Vì vậy toàn bộ chương vẫn giữ cùng sự căng thẳng: bạo lực và mất mát là thật, nhưng chúng không làm cho chương trình của Đức Chúa Trời kết thúc.
Đến đây câu hỏi đặt ra: Đức Chúa Trời ở đâu giữa thảm họa này? Ở đây cần giữ rất sát văn bản. Giê-rê-mi 31 không nói rằng chính Đức Chúa Trời là người đang khóc; người khóc trong hình ảnh là Ra-chên. Nhưng Đức Chúa Trời không được trình bày như đang vắng mặt. Ngài nghe tiếng than khóc và trả lời nó bằng lời hứa rằng sự mất mát sẽ không phải là kết thúc. Trong một mối liên hệ khác, Rô-ma 8 cũng nói về thế giới đang ở trong trạng thái đau đớn: “cả muôn vật cùng nhau than thở và chịu đau đớn như lúc sinh nở” (8:22), các tín hữu “cũng than thở trong lòng” (8:23), và chính Thánh Linh “cầu thay cho chúng ta bằng những tiếng thở than không thể diễn tả bằng lời” (8:26). Như vậy, giữa sự đau đớn và hư hoại của thế giới, Đức Chúa Trời không đứng xa khỏi những tiếng than thở của tạo vật và con người; qua Thánh Linh, Ngài hiện diện ngay giữa sự yếu đuối ấy và thấu hiểu cho họ.
Như vậy, mạch logic của Ma-thi-ơ 2:16–18 không phải: Giê-rê-mi thấy trước bằng một khải tượng rằng Hê-rốt sẽ giết trẻ em tại Bết-lê-hem. Mạch logic chính xác ở đây là: thảm họa cũ của Y-sơ-ra-ên đang được tái hiện. Ra-chên đã từng được dùng như người mẹ khóc cho con cái Y-sơ-ra-ên khi chúng bị tàn sát và lưu đày; giờ tiếng khóc ấy được Ma-thi-ơ đặt vào một bi kịch mới của con cái Y-sơ-ra-ên. Nhưng cũng giống như Giê-rê-mi 31 không kết thúc bằng tiếng khóc mà chuyển sang lời hứa phục hồi, câu chuyện Ma-thi-ơ cũng không kết thúc với chiến thắng của Hê-rốt. Vì sau đó Hê-rốt chết, Đức Chúa Jêsus trở về, và câu chuyện tiếp tục. Đây là cách Ma-thi-ơ đặt cuộc tàn sát ở Bết-lê-hem vào trong toàn bộ câu chuyện dài về sự áp bức, lưu đày và phục hồi của Y-sơ-ra-ên.
Tại sao lại là… Na-xa-rét?
Bây giờ chuyển sang đoạn cuối của Ma-thi-ơ 2, tức Ma-thi-ơ 2:19–23. Đối tượng trực tiếp vẫn là gia đình Giô-sép, Ma-ri và Đức Chúa Jêsus.
Hê-rốt đã chết, nên thiên sứ của Chúa hiện ra với Giô-sép tại Ai Cập và bảo ông: “Hãy đứng dậy, đem Con Trẻ và mẹ Ngài trở về đất Y-sơ-ra-ên, vì những kẻ tìm giết Con Trẻ đã chết rồi.” Gia đình vì thế trở lại Y-sơ-ra-ên, nhưng khi Giô-sép biết A-chê-la-út, con Hê-rốt, đang cai trị xứ Giu-đê, ông sợ đến đó. Sau một sự cảnh báo khác trong chiêm bao, ông đi lên vùng Ga-li-lê và định cư tại Na-xa-rét. Ma-thi-ơ kết thúc toàn bộ phần này bằng câu: “Như vậy ứng nghiệm lời các nhà tiên tri rằng: Ngài sẽ được gọi là người Na-xa-rét.”
Điểm đầu tiên cần chú ý là Ma-thi-ơ tiếp tục khuôn mẫu đã xuất hiện suốt chương 2: một biến cố tưởng như làm chệch hướng câu chuyện lại được đặt bên trong mục đích rộng hơn của Đức Chúa Trời. Trước đó, Hê-rốt tìm giết Đức Chúa Jêsus nên gia đình phải chạy sang Ai Cập; Ma-thi-ơ nối việc đó với Ô-sê 11:1. Hê-rốt giết các trẻ em tại Bết-lê-hem; Ma-thi-ơ nối việc đó với Giê-rê-mi 31:15. Bây giờ gia đình muốn trở lại đất Y-sơ-ra-ên nhưng không thể định cư tại Giu-đê vì A-chê-la-út, nên phải đi đến Na-xa-rét; Ma-thi-ơ lại nói điều đó “ứng nghiệm” lời các nhà tiên tri. Như vậy cả ba lần, hoàn cảnh chính trị và bạo lực của con người không được trình bày như phá hỏng câu chuyện; Ma-thi-ơ nhìn chúng trong trật tự logic lớn hơn của Kinh Thánh.
Tuy nhiên, câu cuối này khác rõ rệt hai lần trước. Ví dụ khi nói về Ai Cập, Ma-thi-ơ trích một câu có thể xác định được trong Ô-sê 11:1. Hoặc khi nói về tiếng khóc tại Ra-ma, ông trích Giê-rê-mi 31:15. Nhưng ở Ma-thi-ơ 2:23, không có câu nào trong Cựu Ước nói rằng Ngài sẽ được gọi là người Na-xa-rét. Đặc biệt, Ma-thi-ơ không nói “nhà tiên tri” ở số ít nhưng nói “các nhà tiên tri”, cho thấy ông không nhất thiết đang chỉ tới một câu tiên tri duy nhất mà có thể đang gom một chủ đề hoặc một mô hình xuất hiện qua nhiều sách tiên tri.
Vậy là ứng nghiệm lời mấy đấng tiên tri đã nói rằng: Người ta sẽ gọi Ngài là người Na-xa-rét. (Ma-thi-ơ 2:23)
Bí mật nằm ở sự liên hệ đáng chú ý trong Ê-sai 11:1: “Một chồi sẽ nứt ra từ gốc Y-sai, một nhánh từ rễ nó sẽ ra trái.” Hình ảnh ở đây là một cái cây đã bị chặt xuống chỉ còn lại gốc. Y-sai là cha của Đa-vít, vì vậy cái cây tượng trưng cho dòng vua Đa-vít. Sau những thảm họa xảy đến với Y-sơ-ra-ên và dòng vua Đa-vít, có vẻ như cái cây ấy đã bị đốn xuống. Nhưng Đức Chúa Trời vẫn sẽ giữ lời hứa với Đa-vít. Từ cái gốc tưởng như đã chết ấy sẽ mọc lên một chồi nhỏ, rồi chồi đó trở thành một nhánh mới. Nhánh mới này chính là vị vua tương lai đến từ dòng Đa-vít.
Hình ảnh này không chỉ xuất hiện ở Ê-sai. Giê-rê-mi 23:5 nói: “Ta sẽ làm cho Đa-vít mọc lên một Nhánh công chính; Ngài sẽ trị vì làm vua.” Giê-rê-mi 33:15 lại nói Đức Chúa Trời sẽ khiến “một Nhánh công chính mọc lên cho Đa-vít”. Xa-cha-ri 3:8 gọi một nhân vật sắp đến là “Đầy Tớ Ta, là Nhánh”, và Xa-cha-ri 6:12 cũng nói về một người có tên là “Nhánh”. Vì thế “nhánh/chồi” trở thành một hình ảnh được nhiều nhà tiên tri sử dụng cho nhân vật tương lai liên quan đến dòng vua Đa-vít.
Và đây là chỗ chơi chữ. Từ Hê-bơ-rơ mà Ê-sai 11:1 dùng cho “nhánh/chồi” là netzer. Tên Na-xa-rét trong dạng Hê-bơ-rơ được liên hệ với âm Netzeret. Vì vậy giữa netzer, “nhánh”, và Na-xa-rét có một sự tương ứng về âm thanh. Ma-thi-ơ đang nối nơi Đức Chúa Jêsus lớn lên với hình ảnh tiên tri về Đấng Mê-si như một “nhánh” mọc ra từ gốc Y-sai.
Cho nên nếu nói theo cách chơi chữ: Đức Chúa Jêsus lớn lên tại “thành của nhánh”, trong khi các nhà tiên tri đã nói rằng Đấng Mê-si sẽ là “Nhánh”. Na-xa-rét là một ngôi làng nhỏ, không nổi bật, nằm trong vùng đồi núi Ga-li-lê. Nhưng chính cái tên ấy lại tạo ra một liên kết với hình ảnh nhỏ bé của một chồi non mọc lên từ một gốc cây đã bị chặt. Vì thế điều lúc đầu có vẻ như một sự thất vọng, gia đình không thể sống tại Bết-lê-hem mà phải chuyển đến một nơi nhỏ bé như Na-xa-rét, lại phù hợp với hình ảnh mà các nhà tiên tri đã dùng cho vị vua tương lai.
Nhưng ý nghĩa không dừng ở cách chơi chữ. Ê-sai tiếp tục phát triển hình ảnh cái chồi và cái rễ trong phần sau của sách. Vị vua tương lai thuộc dòng Đa-vít không chỉ xuất hiện như một nhánh mới, mà còn là một nhân vật bị chính dân mình khước từ và phải chịu đau khổ. Điều này đạt đến một trong những hình ảnh nổi bật nhất trong Ê-sai 53. Ở đó, người đầy tớ chịu khổ được mô tả rằng: “Người đã lớn lên trước mặt Ngài như một chồi non, như cái rễ ra từ đất khô.” Người ấy không có vẻ đẹp hay uy nghi khiến người khác bị thu hút; trái lại, người bị khinh dể, bị người ta chối bỏ, là người từng trải sự đau buồn.
Sau đó Ê-sai nói người ấy mang lấy đau đớn và khổ sở của người khác. Người bị thương vì sự vi phạm của họ, bị nghiền nát vì sự gian ác của họ; và bởi những vết thương của người mà họ được chữa lành.
Vì vậy hình ảnh “chồi” không chỉ nối Đức Chúa Jêsus với dòng Đa-vít mà còn nối với hình ảnh một nhân vật không xuất hiện trong sự huy hoàng mà người ta mong đợi, nhưng bị khinh dể, chịu khổ và mang lấy đau khổ của người khác.
Điều này lại nối trực tiếp với Na-xa-rét. Trong Giăng 1, khi Phi-líp tìm gặp Na-tha-na-ên và nói rằng ông đã gặp Đức Chúa Jêsus người Na-xa-rét, Na-tha-na-ên lập tức phản ứng: “Có điều gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao?” Chính nơi Đức Chúa Jêsus lớn lên đã khiến người khác nghi ngờ Ngài. Na-xa-rét không phải một nơi tạo ra ấn tượng rằng từ đó sẽ xuất hiện vị vua vĩ đại của Y-sơ-ra-ên. Nhưng đó chính là điều Ma-thi-ơ muốn người đọc nhận ra: nơi tưởng như không phù hợp lại trở thành một biểu tượng cho chính cách Đức Chúa Jêsus xuất hiện. Ngài là Đấng Mê-si, là vị vua thuộc dòng Đa-vít, là “Nhánh”, nhưng Ngài lớn lên ở một nơi không đáng kể và sau đó chính Ngài cũng bị khinh dể và chối bỏ.
Khi đặt ba câu chuyện của Ma-thi-ơ 2 cạnh nhau, một chủ đề lớn bắt đầu xuất hiện. Đức Chúa Jêsus được gọi là Em-ma-nu-ên, “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”, nhưng sự hiện diện của Đức Chúa Trời không có nghĩa gia đình Ngài tránh khỏi mọi nỗi kinh hoàng và thất vọng của đời sống con người. Ngay khi còn nhỏ, Đức Chúa Jêsus đã bị một vị vua truy sát. Gia đình phải bỏ nhà chạy sang Ai Cập. Những trẻ em khác tại Bết-lê-hem bị giết. Sau khi Hê-rốt chết, họ tưởng có thể trở về, nhưng lại không thể sống tại Giu-đê và buộc phải đến Na-xa-rét. Cả thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus đã được đánh dấu bởi những nguy hiểm, mất mát và những kế hoạch liên tục bị thay đổi.
Bài học ý nghĩa ở đây là không phải Đức Chúa Jêsus đến để khiến mọi điều con người mong muốn đều lập tức trở thành hiện thực (như các trào lưu Tin Lành Thịnh Vượng hay rao giảng). Thế giới vẫn là nơi con người có khả năng lựa chọn điều ác có thể sử dụng quyền lực, bạo lực và ích kỷ để gây ra những thảm họa khủng khiếp. Hê-rốt là một ví dụ rõ ràng: ông cố giữ lấy quyền lực của mình và sẵn sàng dùng bạo lực để làm điều đó. Nhưng câu hỏi ở đây đặt ra là: Đức Chúa Trời ở đâu giữa toàn bộ tình trạng đó?
Câu trả lời được trình bày qua chính Đức Chúa Jêsus. Đức Chúa Trời không đứng ở xa tất cả những nỗi kinh hoàng và bi kịch mà con người trải qua. Con của Đức Chúa Trời bước vào trong chính thế giới đó và trở thành đối tượng của những điều tương tự. Đức Chúa Jêsus sinh ra đã có người muốn lấy mạng Ngài, phải chạy trốn khi còn nhỏ, lớn lên ở một nơi bị xem thường, rồi sau này chính Ngài sẽ bị khước từ và bị giết. Cuộc đời bắt đầu với một sự khổ nạn đặt trên Ngài và kết thúc bằng việc Ngài bị hành hình.
Đây là nơi hình ảnh “Nhánh” của Ê-sai trở nên sâu sắc hơn. Đức Chúa Jêsus là vị vua thuộc dòng Đa-vít, nhưng là vị vua đến như một chồi nhỏ mọc từ cái gốc tưởng như chết. Ngài là Đấng Mê-si, nhưng lớn lên tại Na-xa-rét. Ngài là người tôi tớ trong hình ảnh của Ê-sai, bị khinh dể và chịu đau khổ. Ngài không cứu chuộc con người bằng cách đứng bên ngoài đau khổ của họ, nhưng bằng cách bước vào trong đó và cuối cùng chịu đau khổ thay cho họ.
Vì vậy toàn bộ Ma-thi-ơ 2 đưa đến một cách hiểu về “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”. Điều đó không có nghĩa mọi hoàn cảnh trong đời sống sẽ diễn ra như con người mong muốn. Ngay chính Giô-sép, Ma-ri và Đức Chúa Jêsus cũng không trải qua một đời sống như bản thân mong muốn. Từ khi Đức Chúa Jêsus còn thơ ấu, đời sống gia đình đã liên tục bị đánh dấu bởi nguy hiểm, thất vọng và thay đổi ngoài ý muốn. Nhưng Ma-thi-ơ trình bày rằng giữa tất cả những điều đó, Đức Chúa Trời vẫn ở cùng con người trong chính Đức Chúa Jêsus. Ngài bước vào hoàn cảnh của con người, chịu những đau đớn và bi kịch của thế giới ấy, rồi đi đến sự chịu khổ mà Ê-sai đã mô tả về người đầy tớ bị khinh dể. Đó là mạch nối từ “Ngài sẽ được gọi là người Na-xa-rét”, qua hình ảnh netzer, tức “Nhánh”, đến hình ảnh người đầy tớ chịu khổ, và cuối cùng đến chủ đề Em-ma-nu-ên: Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta ngay giữa một thế giới đầy đau khổ và thất vọng.
Bài học cá nhân: Đức Chúa Trời ở đâu khi mọi thứ không như mong đợi?
Từ đây, câu chuyện đi đến kết luận lớn hơn. Nếu đời sống con người bị đánh dấu bởi thất vọng, đau khổ, tội lỗi, sự chết và những điều ác do những “Hê-rốt” hay “Pha-ra-ôn” của thế giới gây ra, thì hy vọng không nằm ở chỗ mọi đau khổ lập tức biến mất. Ê-sai 53 cho thấy Người Đầy Tớ chịu khổ đem sự chữa lành qua chính những thương tích của mình: người bị thương vì sự vi phạm của người khác, bị nghiền nát vì sự gian ác của họ, và bởi những vết thương của người mà họ được chữa lành. Tội lỗi, sự chết và điều ác của con người vì thế không thể làm thất bại mục đích cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
Hy vọng cuối cùng nằm ở sự sống lại. Đức Chúa Jêsus không tránh khỏi đau khổ và cái chết, nhưng đi xuyên qua chúng rồi sống lại. Vì vậy, khi đời sống không diễn ra như mong đợi, câu hỏi không chỉ là “Đức Chúa Trời đang ở đâu?” mà còn là tại sao chúng ta theo Đức Chúa Jêsus ngay từ đầu. Có phải chúng ta tìm kiếm một Đấng khiến mọi việc xảy ra theo ý mình, hay đặt hy vọng nơi Đấng đã bày tỏ tình yêu và ân điển qua sự chịu khổ, sự chết và sự sống lại của Con Một?
Ma-thi-ơ 2 cho thấy “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” không đồng nghĩa với một đời sống không còn đau khổ hay thất vọng. Đức Chúa Jêsus vừa sinh ra đã bị truy sát, phải chạy sang Ai Cập, rồi gia đình lại phải thay đổi kế hoạch và đến sống tại Na-xa-rét. Chính cuộc đời Ngài đi qua sự khước từ, đau khổ và cuối cùng là cái chết trước khi đến sự sống lại.
Hình ảnh này đạt đến cao điểm tại vườn Ghết-sê-ma-nê, nơi Đức Chúa Jêsus đau buồn sâu sắc khi đối diện với điều sắp xảy ra. Tuy nhiên, chính con đường đi qua sự chịu khổ đến sự sống lại trở thành nền tảng của hy vọng.
Vì vậy, Ma-thi-ơ 2 không đưa ra lời hứa rằng Đức Chúa Trời ở cùng con người thì mọi mong muốn cá nhân của chúng ta sẽ thành hiện thực. Điểm chính là Đức Chúa Trời ở cùng loài người trong Đức Chúa Jêsus, bước vào chính đau khổ và sự chết của thế giới rồi chiến thắng sự chết bằng sự sống lại. Đứa trẻ bị truy sát, người Na-xa-rét bị khinh thường, Người Đầy Tớ chịu thương tích và Đấng Mê-si bị đóng đinh cuối cùng đều là cùng một Đức Chúa Jêsus; và hy vọng cho nhân loại nằm ở sự sống lại của Ngài.
